Chính sách - pháp luật

Không có báo giá trên Hệ thống: Chủ đầu tư xử lý thế nào theo Nghị định 349/2026/NĐ-CP?

Ngày đăng: 18/09/2026Cập nhật: 18/09/2026 13:56Tác giả: Ban biên tập Giá Vật Liệu Xây Dựng
Chủ đầu tư xử lý khi không có báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo Nghị định 349/2026/NĐ-CP

Nghị định 349/2026/NĐ-CP yêu cầu đăng yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia khi sử dụng báo giá để xác định giá gói thầu. Bài viết hướng dẫn từng bước chủ đầu tư cần thực hiện và cách xử lý thận trọng khi hết hạn nhưng không nhận được báo giá nào.

Nghị định 349/2026/NĐ-CP ngày 09/9/2026 đã sửa đổi một nội dung rất đáng chú ý trong việc sử dụng báo giá để xác định giá gói thầu. Theo quy định mới, khi chủ đầu tư lựa chọn báo giá làm căn cứ xác định giá gói thầu thì yêu cầu báo giá phải được đăng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên chính Hệ thống.

Vấn đề thực tế dễ phát sinh là: chủ đầu tư đã đăng yêu cầu đúng quy định, đã chờ hết thời hạn tối thiểu nhưng không có đơn vị nào gửi báo giá. Trong trường hợp này có được lấy báo giá qua email, tự xác định giá, đăng lại hay phải chuyển sang căn cứ xác định giá gói thầu khác?

Bài viết dưới đây hướng dẫn theo từng bước, ưu tiên cách xử lý có khả năng giải trình tốt khi thẩm định, thanh tra hoặc kiểm toán.

Cập nhật ngày 18/09/2026.

Nghị định 349/2026/NĐ-CP quy định gì về thu thập báo giá?

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 09/9/2026 và có hiệu lực kể từ ngày ký.

Nghị định sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định 214/2025/NĐ-CP về căn cứ xác định giá gói thầu.

Theo quy định mới đối với báo giá của hàng hóa, dịch vụ:

  • Tối thiểu phải có 01 báo giá;
  • Khuyến khích thu thập nhiều hơn 01 báo giá;
  • Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
  • Đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
  • Thời hạn nhận báo giá tối thiểu là 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá.

Điểm cần hiểu chính xác là quy định trên áp dụng khi chủ đầu tư sử dụng báo giá tại điểm d khoản 2 Điều 18 làm căn cứ xác định giá gói thầu.

Không nên diễn giải thành mọi gói thầu đều bắt buộc phải xác định giá bằng phương pháp thu thập báo giá, bởi khoản 2 Điều 18 còn quy định các căn cứ khác để xác định giá gói thầu tùy trường hợp cụ thể.

Bước 1: Xác định có sử dụng báo giá làm căn cứ hay không

Trước khi đăng yêu cầu báo giá, chủ đầu tư cần xác định căn cứ phù hợp để lập giá gói thầu.

Ngoài báo giá, khoản 2 Điều 18 còn có các căn cứ khác như dự toán gói thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu của hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự, kết quả thẩm định giá, giá niêm yết, giá kê khai và các căn cứ phù hợp khác theo quy định.

Do đó, không nên mặc định rằng cứ chuẩn bị một gói mua sắm là phải lấy báo giá.

Nếu lựa chọn báo giá tại điểm d khoản 2 Điều 18 thì phải tuân thủ đầy đủ quy trình đăng tải và tiếp nhận báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Bước 2: Chuẩn bị yêu cầu báo giá đủ rõ để các đơn vị có thể báo giá

Yêu cầu báo giá phải được xây dựng đủ rõ để các nhà cung cấp báo giá trên cùng một mặt bằng so sánh.

Tùy tính chất gói thầu, nên xác định tối thiểu:

  • Tên hàng hóa hoặc dịch vụ;
  • Số lượng, khối lượng;
  • Quy cách và yêu cầu kỹ thuật;
  • Tiêu chuẩn chất lượng nếu có;
  • Địa điểm giao hàng hoặc thực hiện dịch vụ;
  • Thời gian giao hàng hoặc thời gian thực hiện;
  • Yêu cầu lắp đặt, chạy thử nếu có;
  • Bảo hành, bảo trì nếu có;
  • Thuế, phí;
  • Điều kiện vận chuyển;
  • Các chi phí cần thiết khác;
  • Thời hạn hiệu lực của báo giá.

Nếu yêu cầu quá chung, các báo giá nhận được có thể không cùng phạm vi và không thể so sánh.

Ngược lại, nếu yêu cầu đưa ra các thông số không thực sự cần thiết hoặc mang tính định hướng đến một sản phẩm, nhà cung cấp cụ thể thì có thể làm hạn chế cạnh tranh.

Bước 3: Đăng yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia

Sau khi hoàn thiện nội dung, chủ đầu tư thực hiện đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Đối với hàng hóa, dịch vụ thông thường, đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải.

Đây là điểm đặc biệt cần chú ý sau khi Nghị định 349/2026/NĐ-CP có hiệu lực.

Chủ đầu tư có thể chủ động thông tin cho các doanh nghiệp trên thị trường biết rằng yêu cầu báo giá đã được đăng tải để tăng khả năng tiếp cận.

Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư đang sử dụng báo giá theo điểm d khoản 2 Điều 18 thì báo giá sử dụng theo căn cứ này phải được đơn vị quan tâm gửi trên Hệ thống theo quy định.

Không nên coi một báo giá chỉ gửi riêng qua email, văn bản giấy hoặc ứng dụng trao đổi là sự thay thế mặc nhiên cho báo giá phải gửi trên Hệ thống.

Bước 4: Chờ đủ thời hạn trước khi tổng hợp

Chủ đầu tư cần bảo đảm đủ thời hạn tối thiểu theo quy định trước khi tổng hợp kết quả.

Sau khi hết hạn nhận báo giá có thể phát sinh ba tình huống:

  1. Có 01 báo giá;
  1. Có nhiều hơn 01 báo giá;
  1. Không có báo giá nào.

Mỗi trường hợp cần được xử lý khác nhau.

Có 01 báo giá thì có được xác định giá gói thầu không?

Quy định yêu cầu tối thiểu 01 báo giá.

Như vậy, xét riêng điều kiện về số lượng, 01 báo giá đáp ứng mức tối thiểu của điểm d khoản 2 Điều 18.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa chủ đầu tư chỉ cần lấy nguyên tổng giá trị trên báo giá để ghi thành giá gói thầu.

Trước khi sử dụng phải kiểm tra ít nhất:

  • Báo giá có đúng hàng hóa hoặc dịch vụ cần mua hay không;
  • Thông số, quy cách có đáp ứng yêu cầu không;
  • Số lượng có tương ứng không;
  • Giá đã bao gồm thuế hay chưa;
  • Giá đã bao gồm vận chuyển hay chưa;
  • Chi phí lắp đặt, chạy thử, đào tạo có thuộc báo giá không;
  • Bảo hành, bảo trì đã được tính chưa;
  • Phạm vi báo giá có trùng với phạm vi gói thầu không;
  • Thời điểm báo giá có còn phù hợp hay không.

Giá gói thầu phải được xác định trên cơ sở tính đúng, tính đủ các chi phí cần thiết để thực hiện gói thầu.

Vì vậy, “tối thiểu 01 báo giá” không nên được hiểu thành “có 01 báo giá thì sao chép nguyên báo giá thành giá gói thầu”.

Có nhiều báo giá thì có bắt buộc lấy giá trung bình không?

Không.

Nghị định 349/2026/NĐ-CP quy định trường hợp có nhiều hơn 01 báo giá thì được lấy giá trung bình của các báo giá.

Từ “được” cho thấy đây không phải yêu cầu bắt buộc phải lấy trung bình trong mọi trường hợp.

Khi xác định giá trung bình, trường hợp có báo giá hoặc hạng mục trong báo giá có giá cao hơn hoặc thấp hơn 30% giá trung bình thì chủ đầu tư có quyền loại trừ báo giá hoặc hạng mục này để xác định giá trung bình.

Việc loại trừ cũng không phải cơ chế tự động.

Chủ đầu tư nên lập bảng phân tích, nêu rõ:

  • Giá từng đơn vị cung cấp;
  • Giá trung bình ban đầu;
  • Hạng mục hoặc báo giá có chênh lệch;
  • Tỷ lệ chênh lệch;
  • Quyết định có loại hay không loại;
  • Kết quả tính toán sau xử lý.

Hồ sơ này sẽ rất quan trọng khi cơ quan thẩm định hoặc hậu kiểm yêu cầu giải trình cách xác định giá.

Không có báo giá trên Hệ thống thì xử lý thế nào?

Đây là tình huống cần phân tích thận trọng.

Nghị định 349/2026/NĐ-CP không thiết kế một thủ tục riêng với tên gọi “xử lý trường hợp 0 báo giá”.

Tuy nhiên, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 18 yêu cầu tối thiểu 01 báo giá.

Do đó, nếu hết thời hạn mà không có đơn vị nào gửi báo giá thì tại thời điểm đó chủ đầu tư chưa có đủ căn cứ để sử dụng phương pháp báo giá tại điểm d khoản 2 Điều 18 để xác định giá gói thầu.

Việc chủ đầu tư đã hoàn thành thao tác đăng tải yêu cầu báo giá không thể tự thay thế điều kiện phải có tối thiểu 01 báo giá.

Trong trường hợp này có thể xem xét hai hướng xử lý.

Phương án 1: Tiếp tục tổ chức thu thập báo giá trên Hệ thống

Nếu vẫn xác định báo giá là nguồn dữ liệu phù hợp nhất, chủ đầu tư có thể tổ chức một đợt thu thập báo giá tiếp theo trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Đây nên được hiểu là biện pháp nghiệp vụ để tiếp tục thu thập dữ liệu, không nên tự gọi là “gia hạn thời gian nhận báo giá” nếu pháp luật và chức năng của Hệ thống không quy định cụ thể cơ chế gia hạn đối với trường hợp này.

Trước khi thực hiện đợt tiếp theo, nên kiểm tra vì sao không có nhà cung cấp phản hồi:

  • Mô tả kỹ thuật có quá đặc thù hay không;
  • Điều kiện giao hàng có khả thi không;
  • Thời gian thực hiện có quá ngắn không;
  • Sản phẩm còn được sản xuất và lưu thông trên thị trường không;
  • Yêu cầu có vô tình hạn chế nhà cung cấp không;
  • Có đủ doanh nghiệp trên thị trường có khả năng cung ứng không.

Chủ đầu tư có thể thông báo cho các nhà cung cấp phù hợp biết yêu cầu báo giá đã được đăng tải.

Nếu đơn vị quan tâm tham gia, báo giá dùng theo điểm d phải được gửi trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy định.

Phương án 2: Xem xét căn cứ xác định giá gói thầu khác

Nếu không thu được báo giá hoặc báo giá không phải nguồn dữ liệu phù hợp, chủ đầu tư có thể xem xét các căn cứ khác tại khoản 2 Điều 18 nếu đáp ứng điều kiện áp dụng.

Tùy từng gói thầu, có thể nghiên cứu các nguồn như:

  • Dự toán gói thầu được duyệt trong trường hợp phù hợp;
  • Kết quả lựa chọn nhà thầu của hàng hóa, dịch vụ tương tự theo điều kiện của pháp luật;
  • Kết quả thẩm định giá;
  • Giá niêm yết;
  • Giá kê khai;
  • Các căn cứ hợp pháp khác thuộc khoản 2 Điều 18.

Điểm quan trọng là không có quy định buộc chủ đầu tư phải bằng mọi cách thu cho đủ 01 báo giá nếu một căn cứ khác tại khoản 2 Điều 18 phù hợp hơn.

Khi chuyển sang căn cứ khác, hồ sơ nên thể hiện rõ:

  1. Chủ đầu tư đã đăng yêu cầu báo giá;
  1. Đã chờ đủ thời hạn theo quy định;
  1. Kết quả không có đơn vị gửi báo giá;
  1. Lý do lựa chọn căn cứ xác định giá khác;
  1. Nguồn dữ liệu được sử dụng;
  1. Phương pháp xác định giá gói thầu;
  1. Kết quả kiểm tra tính đúng, tính đủ.

Đây là hướng xử lý có khả năng giải trình tốt hơn so với việc tự xác định một mức giá không có tài liệu chứng minh.

Có được lấy báo giá qua email khi trên Hệ thống không có báo giá?

Nếu chủ đầu tư muốn sử dụng báo giá theo điểm d khoản 2 Điều 18 thì cần đặc biệt thận trọng.

Nghị định 349/2026/NĐ-CP quy định:

  • Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
  • Đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Vì vậy, một báo giá chỉ được doanh nghiệp gửi riêng qua email không nên được dùng để thay thế mặc nhiên cho yêu cầu gửi báo giá trên Hệ thống khi chủ đầu tư đang áp dụng điểm d khoản 2 Điều 18.

Nếu chủ đầu tư liên hệ được một nhà cung cấp có khả năng đáp ứng và vẫn muốn sử dụng phương pháp báo giá, hướng xử lý thận trọng là tổ chức một đợt thu thập hợp lệ trên Hệ thống để đơn vị gửi báo giá theo đúng phương thức quy định.

Phải phân biệt “không có báo giá” và “không có nhà thầu dự thầu”

Đây là hai tình huống pháp lý khác nhau.

Không có báo giá

Tình huống này phát sinh trong quá trình xác định giá gói thầu.

Chủ đầu tư đang thu thập dữ liệu giá phục vụ chuẩn bị gói thầu.

Việc xử lý phải xuất phát từ Điều 18 về xác định giá gói thầu.

Không có nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu

Đây là tình huống xảy ra sau khi đã tổ chức quá trình lựa chọn nhà thầu.

Nghị định 349/2026/NĐ-CP đã bổ sung điểm e1 khoản 2 Điều 78 đối với trường hợp gói thầu đã đăng thông báo mời thầu, thông báo mời quan tâm hoặc thông báo mời sơ tuyển nhưng:

  • Không có nhà thầu nộp hồ sơ;
  • Tất cả hồ sơ dự thầu không đáp ứng hồ sơ mời thầu;
  • Hoặc tất cả nhà thầu không đáp ứng yêu cầu để thực hiện gói thầu.

Đó là quy định liên quan đến hình thức lựa chọn nhà thầu.

Không được suy luận rằng chỉ vì không có đơn vị gửi báo giá ở giai đoạn lập giá gói thầu thì chủ đầu tư đương nhiên được chuyển sang chỉ định thầu.

“0 báo giá” và “0 nhà thầu dự thầu” phải được xử lý theo hai nhóm quy định khác nhau.

Trường hợp gói thầu y tế cần lưu ý quy định riêng

Đối với gói thầu mua thuốc; hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế; linh kiện, phụ kiện và vật tư thay thế sử dụng cho thiết bị y tế, Nghị định có cơ chế riêng.

Chủ đầu tư phải đăng yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Thời hạn để đơn vị quan tâm gửi báo giá tối thiểu là 10 ngày kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống.

Trường hợp có từ 02 báo giá trở lên, chủ đầu tư được lựa chọn báo giá cao nhất phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu chuyên môn.

Do đó, không nên áp dụng máy móc cơ chế giá trung bình của hàng hóa, dịch vụ thông thường sang nhóm mua sắm y tế này.

Chủ đầu tư cần lưu những tài liệu gì nếu không có báo giá?

Theo hướng quản trị hồ sơ và hậu kiểm, nên lưu tối thiểu:

  • Nội dung yêu cầu báo giá;
  • Thông tin hoặc mã lần đăng tải trên Hệ thống;
  • Ngày đăng tải;
  • Thời hạn nhận báo giá;
  • Kết quả thể hiện không có đơn vị gửi báo giá;
  • Hồ sơ rà soát lại yêu cầu kỹ thuật;
  • Tài liệu của lần thu thập tiếp theo nếu có;
  • Thuyết minh lý do chuyển sang căn cứ xác định giá khác;
  • Tài liệu chứng minh nguồn giá thay thế;
  • Bảng tính giá gói thầu;
  • Hồ sơ phê duyệt có liên quan.

Việc lập hồ sơ giải trình ngay trong quá trình thực hiện sẽ an toàn hơn nhiều so với bổ sung tài liệu sau khi có yêu cầu của cơ quan thanh tra, kiểm toán hoặc thẩm định.

Trách nhiệm của chủ đầu tư và đơn vị cung cấp báo giá

Nghị định 349/2026/NĐ-CP quy định chủ đầu tư chịu trách nhiệm tổ chức thu thập báo giá bảo đảm công khai, minh bạch.

Đơn vị cung cấp báo giá chịu trách nhiệm về thông tin giá của hàng hóa, dịch vụ phù hợp với khả năng cung cấp của mình và phải bảo đảm việc cung cấp báo giá không vi phạm pháp luật về cạnh tranh, bán phá giá hoặc nâng khống giá.

Nếu chủ đầu tư đã tuân thủ đầy đủ quy định về tổ chức thu thập báo giá, bảo đảm công khai, minh bạch thì chủ đầu tư không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của đơn vị cung cấp báo giá tại nội dung này.

Tuy nhiên, quy định này không có nghĩa chủ đầu tư được miễn trách nhiệm đối với việc xác định giá gói thầu thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

Quy trình 7 bước khi hết hạn mà không có báo giá

Đối với trường hợp thông thường, có thể áp dụng quy trình kiểm soát sau:

Bước 1: Kiểm tra quy trình đăng tải

Xác nhận yêu cầu báo giá đã được đăng đúng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Bước 2: Kiểm tra thời hạn

Bảo đảm đã đủ tối thiểu 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải.

Bước 3: Lưu bằng chứng 0 báo giá

Lưu thông tin trên Hệ thống chứng minh đến hết thời hạn không có đơn vị gửi báo giá.

Bước 4: Rà soát nguyên nhân

Kiểm tra thông số kỹ thuật, phạm vi cung cấp, thời gian, địa điểm và điều kiện thương mại có làm giảm khả năng phản hồi của thị trường hay không.

Bước 5: Chọn hướng xử lý

Quyết định:

  • Tiếp tục tổ chức thu thập báo giá hợp lệ trên Hệ thống; hoặc
  • Chuyển sang một căn cứ xác định giá khác tại khoản 2 Điều 18.

Bước 6: Lập hồ sơ giải trình

Ghi nhận đầy đủ lý do và căn cứ lựa chọn phương án.

Bước 7: Kiểm tra giá gói thầu trước khi phê duyệt

Bảo đảm giá gói thầu được xác định tính đúng, tính đủ và có tài liệu chứng minh.

Những cách xử lý chủ đầu tư nên tránh

Chủ đầu tư không nên:

  • Tự đặt một mức giá chỉ vì đã đăng yêu cầu nhưng không có báo giá;
  • Coi việc đăng yêu cầu báo giá là đủ điều kiện mặc dù kết quả bằng 0;
  • Dùng báo giá gửi ngoài Hệ thống để thay thế mặc nhiên cho quy trình tại điểm d;
  • Lấy nguyên 01 báo giá làm giá gói thầu mà không kiểm tra phạm vi chi phí;
  • Cho rằng cứ có nhiều báo giá là bắt buộc phải lấy giá trung bình;
  • Tự động loại mọi báo giá lệch trên 30%;
  • Nhầm “không có báo giá” với “không có nhà thầu dự thầu”;
  • Chuyển sang chỉ định thầu chỉ vì không có đơn vị gửi báo giá.

Kết luận

Nghị định 349/2026/NĐ-CP đã làm rõ hơn tính công khai, minh bạch trong việc sử dụng báo giá để xác định giá gói thầu: yêu cầu báo giá phải được đăng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống trong thời hạn quy định.

Nếu hết thời hạn mà không có báo giá nào thì điều kiện “tối thiểu 01 báo giá” chưa được đáp ứng. Vì vậy, chủ đầu tư chưa có đủ căn cứ để sử dụng phương pháp báo giá tại điểm d khoản 2 Điều 18 để xác định giá gói thầu.

Hướng xử lý thận trọng là tiếp tục tổ chức thu thập báo giá hợp lệ trên Hệ thống hoặc lựa chọn một căn cứ xác định giá gói thầu khác tại khoản 2 Điều 18 nếu phù hợp.

Trong mọi trường hợp, chủ đầu tư nên lưu đầy đủ bằng chứng đăng tải, kết quả thu thập, nguồn dữ liệu, bảng tính và thuyết minh lựa chọn phương pháp để bảo đảm khả năng giải trình khi hồ sơ được thẩm định, thanh tra hoặc kiểm toán.

Nguồn tham khảo

  • Nghị định số 349/2026/NĐ-CP ngày 09/9/2026 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 09/9/2026.
  • Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
  • Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  • Cổng thông tin Bộ Tài chính.
  • Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Lưu ý: Bài viết được biên tập nhằm hỗ trợ tra cứu và thực hiện nghiệp vụ. Khi xử lý một gói thầu cụ thể, cần kiểm tra văn bản gốc, điều khoản chuyển tiếp và các văn bản sửa đổi, bổ sung còn hiệu lực tại thời điểm thực hiện.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Điểm mới trong quy định chuyển tiếp