Kinh tế xây dựng

Vì sao giá cát, đá xây dựng thực tế có thể cao hơn giá Sở Xây dựng công bố?

Ngày đăng: 21/09/2026Cập nhật: 21/09/2026 23:14Tác giả: Ban biên tập Giá Vật Liệu Xây Dựng
Giá cát đá xây dựng thực tế có thể cao hơn giá Sở Xây dựng công bố do nguồn cung và chi phí vận chuyển

Giá cát, đá xây dựng mà nhà thầu mua thực tế tại công trường có thể cao hơn mức giá Sở Xây dựng công bố. Nguyên nhân không chỉ do biến động cung - cầu mà còn liên quan đến vị trí công bố giá, cự ly vận chuyển, bốc xếp, nguồn mỏ, công suất khai thác, thời điểm khảo sát và điều kiện giao hàng. Muốn so sánh đúng phải đưa giá công bố và giá thực tế về cùng nguồn cung, quy cách, thời điểm và điều kiện giao nhận.

# Vì sao giá cát, đá xây dựng thực tế có thể cao hơn giá Sở Xây dựng công bố?

Trong thực tế lập dự toán và thi công xây dựng, một tình huống thường gặp là giá cát, đá mà nhà thầu hoặc chủ đầu tư mua được trên thị trường cao hơn mức giá được công bố trong bảng giá vật liệu xây dựng của địa phương.

Đặc biệt với các vật liệu có nguồn gốc khoáng sản như cát tự nhiên, cát nghiền, đá 1x2, đá 2x4, đá cấp phối…, mức chênh lệch đôi khi khá rõ.

Từ đó dễ xuất hiện câu hỏi:

Giá Sở Xây dựng công bố có thấp hơn thị trường hay không?

Không thể trả lời chỉ bằng cách lấy hai con số đặt cạnh nhau.

Trước hết phải xác định hai mức giá đang so sánh có cùng:

  • Chủng loại, quy cách và chất lượng vật liệu;
  • Nguồn cung;
  • Thời điểm;
  • Vị trí giao nhận;
  • Khoảng cách vận chuyển;
  • Điều kiện thương mại;
  • Khối lượng cung ứng;

hay không.

Trong rất nhiều trường hợp, giá công bố và giá nhà thầu thực trả không nằm trên cùng một mặt bằng so sánh.

Giá công bố không nhất thiết là giá vật liệu đã giao đến tận công trường

Đây là nguyên nhân quan trọng nhất nhưng cũng thường bị bỏ qua.

Theo quy định hiện hành, thông tin giá vật liệu xây dựng được công bố có thể là giá tại:

  • Mỏ;
  • Nơi sản xuất;
  • Đại lý;
  • Nhà cung ứng;
  • Hoặc giá bình quân của một khu vực cụ thể.

Trong khi đó, nhà thầu quan tâm đến một khái niệm khác:

Giá thực tế của vật liệu tại hiện trường công trình.

Hai mức giá này có thể khác nhau đáng kể.

Có thể hình dung:

Giá vật liệu đến công trường = Giá tại nguồn + Chi phí vận chuyển + Chi phí bốc xếp + Chi phí vận chuyển nội bộ + Hao hụt bảo quản nếu có.

Ví dụ, một loại đá có giá tại mỏ là 300.000 đồng/m³ chưa có nghĩa chi phí để đưa 1 m³ đá tới công trình cũng là 300.000 đồng.

Nếu công trình nằm cách mỏ hàng chục kilômét, phải đi qua đường đô thị, đường hạn chế tải trọng hoặc phải trung chuyển thì chi phí vận tải có thể trở thành một bộ phận rất lớn của giá vật liệu tại công trường.

Đây là lý do đầu tiên cần kiểm tra khi thấy:

Giá thực tế > Giá công bố.

Cát và đá là nhóm vật liệu đặc biệt nhạy cảm với khoảng cách vận chuyển

Khác với nhiều loại vật liệu có giá trị lớn nhưng trọng lượng nhỏ, cát và đá có đặc điểm:

  • Khối lượng riêng lớn;
  • Giá trị trên một đơn vị khối lượng không quá cao;
  • Chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng đáng kể;
  • Khoảng cách nguồn cung tác động trực tiếp đến giá đến công trường.

Một công trình gần mỏ đá có thể có giá vật liệu khá sát giá nguồn.

Nhưng cùng loại đá đó nếu vận chuyển thêm 30–50 km thì tổng chi phí có thể thay đổi đáng kể.

Vì vậy, khi so sánh giá cần hỏi:

Giá công bố đang là giá ở đâu?

và:

Giá nhà thầu phản ánh đang là giá giao ở đâu?

Nếu một bên là giá tại mỏ còn một bên là giá giao tận chân công trình thì việc chênh lệch là hoàn toàn có thể xảy ra.

Giá công bố là giá bình quân, còn giá mua thực tế thường là giá tại một thời điểm cụ thể

Theo quy định về công bố giá vật liệu xây dựng hiện hành, giá được tổng hợp và xác định trên cơ sở các mức giá đã được khảo sát, rà soát và chuẩn hóa trong kỳ công bố.

Điều đó có nghĩa đây thường là mức giá có tính đại diện của một khoảng thời gian, không phải giá giao dịch tức thời của từng ngày.

Trong khi đó thị trường có thể biến động rất nhanh.

Ví dụ:

  • Đầu tháng nguồn cung bình thường;
  • Giữa tháng một số mỏ giảm sản lượng;
  • Cuối tháng nhiều dự án đồng loạt tăng nhu cầu.

Giá giao dịch cuối tháng có thể cao hơn đáng kể so với bình quân của cả tháng.

Nếu bảng công bố được xây dựng từ dữ liệu của cả kỳ thì việc so sánh với một báo giá phát sinh đúng lúc thị trường khan hàng sẽ tạo ra chênh lệch.

Đây không nhất thiết là sai số của công bố giá mà có thể là độ lệch thời điểm.

Nguồn cung cát, đá không thể tăng ngay khi nhu cầu tăng

Cát, đá xây dựng không phải loại hàng hóa mà nhà sản xuất có thể tăng sản lượng không giới hạn chỉ trong vài ngày.

Nguồn cung phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

  • Trữ lượng mỏ;
  • Giấy phép khai thác;
  • Công suất khai thác được phép;
  • Công suất nghiền, sàng;
  • Khả năng vận chuyển;
  • Điều kiện thời tiết;
  • Đường vào mỏ;
  • Khả năng đáp ứng của phương tiện vận tải;
  • Các yêu cầu về môi trường và khai thác khoáng sản.

Trong khi đó, nhu cầu có thể tăng rất nhanh khi nhiều dự án hạ tầng, giao thông, đô thị hoặc đầu tư công đồng thời bước vào giai đoạn thi công cao điểm.

Khi:

Nhu cầu tăng nhanh hơn khả năng tăng cung

thì giá giao dịch thực tế có xu hướng tăng.

Đây là một trong những nguyên nhân làm cho cát, đá thường có mức biến động mạnh hơn nhiều nhóm vật liệu công nghiệp có hệ thống sản xuất và phân phối ổn định.

Công suất mỏ trên giấy và lượng vật liệu thực tế đưa ra thị trường không phải lúc nào cũng giống nhau

Một yếu tố cần phân tích sâu hơn là khả năng cung ứng thực tế.

Một mỏ có trữ lượng lớn không đồng nghĩa thị trường ngay lập tức có lượng vật liệu tương ứng.

Khả năng cung cấp thực tế còn phụ thuộc:

Trữ lượng → công suất khai thác → công suất chế biến → khả năng vận tải → khả năng giao hàng.

Chỉ cần một khâu bị hạn chế thì lượng vật liệu thực tế đưa ra thị trường có thể giảm.

Ví dụ:

  • Mỏ được phép khai thác nhưng chưa vận hành đủ công suất;
  • Thiếu xe vận chuyển;
  • Đường vận chuyển hạn chế tải trọng;
  • Mỏ phải tạm giảm khai thác;
  • Thiết bị nghiền, sàng phải bảo dưỡng;
  • Điều kiện thời tiết ảnh hưởng việc khai thác cát.

Do đó, khi phân tích thị trường không nên chỉ nhìn tổng trữ lượng khoáng sản mà phải xem khả năng cung ứng thực tế tại thời điểm công trình cần vật liệu.

Cùng gọi là “cát xây dựng” nhưng có thể không phải cùng một loại cát

Một sai lệch phổ biến khác xuất phát từ việc so sánh chưa đúng quy cách vật liệu.

Trên thị trường có thể có:

  • Cát xây;
  • Cát bê tông;
  • Cát san lấp;
  • Cát tự nhiên;
  • Cát nghiền;
  • Cát đã sàng, rửa;
  • Các loại cát có mô đun độ lớn khác nhau.

Tương tự với đá:

  • Đá 1x2;
  • Đá 2x4;
  • Đá 4x6;
  • Đá cấp phối;
  • Đá mi;
  • Đá hộc;
  • Sản phẩm từ các nguồn đá có tính chất cơ lý khác nhau.

Hai mức giá chỉ có ý nghĩa so sánh khi vật liệu có cùng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, nguồn gốc và điều kiện cung ứng.

Nếu bảng công bố là giá một loại đá phổ biến tại mỏ nhưng báo giá nhà thầu sử dụng là sản phẩm đã tuyển chọn, nghiền sàng hoặc có yêu cầu kỹ thuật cao hơn thì mức giá khác nhau là bình thường.

Điều kiện giao hàng có thể tạo ra một phần chênh lệch đáng kể

Một báo giá trên thị trường cần được đọc kỹ.

Giá có thể là:

Giá tại mỏ

hoặc:

Giá lên phương tiện

hoặc:

Giá giao tại địa điểm trung chuyển

hoặc:

Giá giao tận công trường.

Các điều kiện này hoàn toàn khác nhau.

Ngoài vận chuyển, giá thực tế còn có thể chịu tác động của:

  • Bốc lên phương tiện;
  • Bốc xuống;
  • Trung chuyển;
  • Cự ly đường thủy kết hợp đường bộ;
  • Cấp đường vận chuyển;
  • Loại phương tiện;
  • Tải trọng được phép;
  • Thời gian chờ tại mỏ;
  • Điều kiện vào công trường.

Do vậy, việc nói đơn giản:

“Giá công bố 300.000 đồng nhưng tôi mua 450.000 đồng”

chưa đủ để kết luận giá công bố thấp.

Cần bóc tách xem 150.000 đồng chênh lệch gồm những thành phần nào.

Tại sao giá bán lẻ hoặc mua khối lượng nhỏ thường cao hơn giá khảo sát?

Công bố giá thường hướng tới việc phản ánh mặt bằng giá phổ biến.

Trong khi đó một công trình có thể:

  • Mua từng chuyến nhỏ;
  • Yêu cầu giao gấp;
  • Có mặt bằng khó tiếp cận;
  • Không ký hợp đồng cung ứng dài hạn;
  • Không đủ khối lượng để được hưởng giá thương mại tốt.

Giá mua của trường hợp đó hoàn toàn có thể cao hơn giá của khách hàng ký hợp đồng số lượng lớn hoặc mua trực tiếp tại nguồn.

Do vậy, một hóa đơn hoặc một báo giá riêng lẻ chưa chắc đại diện cho mặt bằng thị trường.

Ngược lại, một bảng giá công bố cũng không thể tự động đại diện cho mọi điều kiện mua bán của tất cả công trình.

Độ trễ của thông tin giá là vấn đề cần đặc biệt lưu ý khi thị trường biến động mạnh

Cơ chế công bố giá phải trải qua các bước:

Thu thập dữ liệu → kiểm tra → chuẩn hóa → xử lý → tổng hợp → công bố.

Quy trình này cần thiết để bảo đảm dữ liệu không bị chi phối bởi những báo giá bất thường.

Nhưng trong một thị trường biến động nhanh, nó cũng có thể tạo ra độ trễ nhất định.

Ví dụ:

Giá tăng mạnh trong vài ngày cuối kỳ nhưng dữ liệu của phần lớn thời gian khảo sát vẫn ở mức thấp hơn.

Khi đó:

Giá bình quân kỳ công bố < Giá giao dịch tại thời điểm cuối kỳ.

Quy định hiện hành đã tính đến vấn đề này khi cho phép các loại vật liệu có biến động bất thường được công bố theo tháng.

Điều quan trọng là cơ quan công bố cần có hệ thống dữ liệu đủ rộng và cập nhật thường xuyên để giảm khoảng cách giữa giá công bố và diễn biến thực tế.

Không phải cứ giá thị trường cao hơn là được lấy ngay để lập dự toán

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý trong quản lý chi phí.

Khi phát hiện báo giá cát hoặc đá cao hơn công bố, không nên xử lý theo hai cực đoan:

Cách thứ nhất: bắt buộc phải dùng giá công bố

Cách làm này có thể không phù hợp nếu giá công bố:

  • Khác nguồn cung;
  • Không bao gồm vận chuyển;
  • Không đúng quy cách;
  • Hoặc đã không còn phù hợp với thị trường tại thời điểm lập dự toán.

Cách thứ hai: lấy ngay báo giá cao nhất ngoài thị trường

Cách này cũng không đúng.

Báo giá phải được xem xét về:

  • Tính hợp pháp của nguồn cung;
  • Chủng loại;
  • Quy cách;
  • Khối lượng;
  • Điều kiện giao hàng;
  • Cự ly vận chuyển;
  • Tính cạnh tranh;
  • Tính đại diện của thị trường.

Mục tiêu không phải tìm giá thấp nhất hoặc giá cao nhất, mà là xác định mức giá hợp lý và phù hợp với điều kiện cụ thể của công trình.

Quy định hiện hành cho phép xác định giá phù hợp với công trình khi giá công bố chưa phù hợp

Thông tư số 36/2026/TT-BXD quy định chủ đầu tư tham khảo, sử dụng giá xây dựng và giá các yếu tố chi phí trực tiếp do cơ quan quản lý công bố để xác định chi phí đầu tư xây dựng.

Trường hợp thông tin giá đã công bố chưa có hoặc chưa phù hợp với công trình, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn được xác định giá phù hợp theo phương pháp do Bộ Xây dựng hướng dẫn.

Đối với vật liệu, việc xác định giá cần căn cứ vào:

  • Công bố giá của địa phương;
  • Báo giá nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp;
  • Dữ liệu giá trên thị trường;
  • Dữ liệu của công trình tương tự nếu phù hợp;
  • Yêu cầu kỹ thuật;
  • Nguồn gốc xuất xứ;
  • Thời điểm;
  • Khả năng cung ứng;
  • Vị trí công trình.

Nếu giá tại nguồn chưa bao gồm vận chuyển thì phải xác định thêm chi phí đưa vật liệu đến hiện trường.

Như vậy, giá công bố là một nguồn dữ liệu rất quan trọng nhưng không phải là một con số được áp dụng máy móc cho mọi công trình trong mọi điều kiện.

Giá vật liệu đến công trường mới là dữ liệu cần quan tâm khi lập chi phí

Theo phương pháp xác định giá xây dựng hiện hành, giá vật liệu sử dụng trong giá công tác xây dựng phải là giá phù hợp với công trình và được tính đến hiện trường.

Có thể biểu diễn:

Giá đến hiện trường = Giá tại nguồn + Vận chuyển + Bốc xếp + Vận chuyển nội bộ + Hao hụt bảo quản (nếu có).

Trong đó, riêng chi phí vận chuyển lại phụ thuộc:

  • Cự ly;
  • Cấp đường;
  • Phương thức vận chuyển;
  • Chủng loại phương tiện;
  • Tải trọng;
  • Cước vận chuyển;
  • Nhu cầu trung chuyển.

Đối với cát và đá, đây thường là nhóm chi phí cần được phân tích rất kỹ.

Ví dụ đơn giản

Giả sử:

  • Giá đá tại mỏ: 300.000 đồng/m³;
  • Chi phí vận chuyển: 90.000 đồng/m³;
  • Bốc xếp và trung chuyển: 15.000 đồng/m³;
  • Các chi phí phù hợp khác đến hiện trường: 10.000 đồng/m³.

Khi đó:

Giá đến công trường = 300.000 + 90.000 + 15.000 + 10.000 = 415.000 đồng/m³.

Nếu bảng công bố ghi 300.000 đồng/m³ tại mỏ mà nhà thầu báo giá 415.000 đồng/m³ giao tới công trình thì không thể nói ngay rằng:

“Giá thị trường cao hơn công bố 115.000 đồng/m³.”

Thực chất phần lớn chênh lệch có thể là chi phí để đưa vật liệu từ nguồn đến nơi sử dụng.

Khi nào chênh lệch mới thực sự đáng lo?

Khoảng cách giữa giá công bố và thị trường cần được xem xét kỹ khi đồng thời xuất hiện các dấu hiệu:

  • Cùng một loại vật liệu;
  • Cùng quy cách và chất lượng;
  • Cùng nguồn hoặc khu vực cung ứng;
  • Cùng điều kiện giao nhận;
  • Cùng thời điểm;
  • Nhiều nhà cung cấp độc lập đều báo mức cao hơn;
  • Chênh lệch duy trì trong một khoảng thời gian đủ dài.

Nếu các điều kiện này đều tương đồng mà giá thực tế vẫn cao hơn đáng kể thì có cơ sở để cho rằng dữ liệu công bố chưa theo kịp mặt bằng thị trường.

Trong năm 2026, cơ quan quản lý xây dựng cũng đã yêu cầu các địa phương tăng cường khảo sát, kiểm soát và cập nhật giá vật liệu, đặc biệt với các nhóm có biến động mạnh như cát và đá, nhằm bảo đảm giá công bố phản ánh sát hơn thị trường.

Chủ đầu tư và tư vấn nên làm gì khi giá cát, đá thực tế cao hơn công bố?

Thay vì chỉ ghi nhận một báo giá cao hơn, nên thực hiện lần lượt:

Bước 1: Kiểm tra điều kiện của giá công bố

Xác định:

  • Giá tại mỏ hay đến nơi giao nhận?
  • Nguồn nào?
  • Quy cách nào?
  • Thời điểm nào?

Bước 2: Xác định nguồn vật liệu thực tế của công trình

Nguồn phải phù hợp:

  • Yêu cầu thiết kế;
  • Chỉ dẫn kỹ thuật;
  • Tiến độ;
  • Trữ lượng;
  • Khả năng cung cấp.

Bước 3: Thu thập nhiều nguồn giá

Có thể đối chiếu:

  • Công bố giá;
  • Báo giá nhà cung cấp;
  • Giá của nhà sản xuất;
  • Dữ liệu giao dịch thực tế;
  • Giá tại các công trình tương tự.

Bước 4: Xác định chi phí đưa vật liệu đến công trường

Lập rõ:

Nguồn → cự ly → tuyến vận chuyển → phương tiện → cước → bốc xếp → giá đến hiện trường.

Bước 5: Lưu đầy đủ hồ sơ chứng minh

Đây là bước rất quan trọng để phục vụ:

  • Lập dự toán;
  • Thẩm tra;
  • Thẩm định;
  • Kiểm toán;
  • Thanh tra;
  • Quyết toán.

Kết luận

Việc giá cát, đá mua thực tế cao hơn giá Sở Xây dựng công bố có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân và không nên mặc định đồng nghĩa với việc bảng công bố giá sai.

Điểm mấu chốt là phải phân biệt:

Giá tại nguồn – giá bình quân công bố – giá giao dịch – giá vật liệu đến hiện trường.

Đối với cát và đá, khoảng cách vận chuyển, nguồn mỏ, công suất cung ứng và thời điểm mua hàng có tác động đặc biệt lớn đến giá thực tế.

Muốn so sánh đúng phải đưa hai mức giá về cùng:

Chủng loại → chất lượng → nguồn → thời điểm → điều kiện giao nhận → vị trí.

Nếu sau khi chuẩn hóa tất cả các yếu tố trên mà giá giao dịch phổ biến vẫn cao hơn đáng kể so với mức công bố thì đó mới là tín hiệu cần được phản ánh trong công tác khảo sát và cập nhật giá.

Ở chiều ngược lại, khi lập chi phí cho một công trình cụ thể, giá công bố cần được sử dụng đúng bản chất là một nguồn thông tin quản lý chi phí; trường hợp chưa phù hợp, pháp luật đã có cơ chế để chủ đầu tư và tư vấn xác định giá vật liệu phù hợp với nguồn cung, điều kiện thị trường và vị trí thực tế của công trình.

Căn cứ pháp lý chính: Nghị định số 206/2026/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Thông tư số 36/2026/TT-BXD hướng dẫn một số nội dung, phương pháp xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Thông tư số 37/2026/TT-BXD hướng dẫn phương pháp xác định định mức dự toán và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật.
Công bố giá vật liệu không có giá của dự án: Chủ đầu tư lấy giá nào để lập dự toán, giá gói thầu?